Loãng xương uống thuốc gì?

22

Loãng xương là căn bệnh có thể bắt gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào. Đặc biệt căn bệnh này thường ít biểu lộ các triệu chứng rõ ràng. Vậy khi nào thì dùng thuốc điều trị loãng xương và điều trị loãng xương uống thuốc gì ? Chúng tôi tin rằng những thông tin cung cấp dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm những phương án khi dùng thuốc điều trị loãng xương để đẩy lùi căn bệnh này.

Khi nào nên sử dụng thuốc trị loãng xương?

Khi bước vào độ tuổi trung niên, người ta dễ mắc những căn bệnh về xương khớp hơn. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng cần thiết uống thuốc. Thế nên đầu tiên thay vì tìm hiểu loãng xương uống thuốc gì, bạn cần phải tìm hiểu xem khi nào thì bản thân mới cần uống thuốc trị loãng xương.

Khi đi thăm khám bác sĩ, bạn sĩ được chẩn đoán và xác định xem căn bệnh loãng xương có gây nguy cơ gãy xương trong vòng mười năm tới hay không thông qua việc kiểm tra mật độ xương. Nếu có thì bạn mới được khuyên dùng thuốc điều trị.

Đối với trường hợp nguy cơ bị gãy xương không cao, bạn chỉ cần bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể, thay đổi lối sống lành mạnh. Bằng cách sử dụng các sản phẩm tăng canxi qua thực phẩm chức năng, đồ ăn thức uống, hay bổ sung vitamin D3, tập luyện thể dục thể thao, tránh dùng các chất kích thích,… tình trạng loãng xương sẽ được cải thiện. Bên cạnh đó, nên theo dõi và kiểm tra thường xuyên để biết được những dấu hiệu bất thường về xương.

Loãng xương uống thuốc gì? 

Sau khi được bác sĩ thăm khám và xem xét tình trạng của bệnh, thường thì họ sẽ cho những bệnh nhân loãng xương uống thuốc gì ? Dưới đây là một số loại thuốc cơ bản chống loãng xương rất phổ biến hiện nay và được nhiều người sử dụng: 

Bisphosphonate: Thuốc kê toa phổ biến nhất hiện nay có lẽ là nhóm thuốc Bisphosphonate. Nhóm thuốc này có thể dùng cho bất kỳ giới tính nào. Chúng có chức năng ngăn chặn việc tái hấp thụ những mô xương trong cơ thể, đồng thời làm chậm tốc độ phân huỷ của xương.

Nhóm thuốc bisphosphonate thường bao gồm những loại thuốc sau:

  • Thuốc viên alendronate. ibandronate hay risedronate: Đây là thuốc điều trị loãng xương dạng viên, thuốc này có thể uống được hàng ngày, hàng tháng hay hàng tuần.
  • Thuốc ibandronate: Là thuốc dạng tiêm, sẽ được các bác sĩ tiêm vào tĩnh mạch người bệnh hàng tháng.
  • Thuốc Axit Zoledronic: Cũng là thuốc dạng tiêm, các bệnh nhân sẽ được tiêm vào tĩnh mạch mỗi năm 1 lần. 

Những loại thuốc bisphosphonates này sẽ gây ra một số tác dụng phụ có thể kể đến như sốt, đau bụng, buồn nôn, ợ chua, đau đầu hoặc sẽ làm giảm chức năng của thận. Tuy nhiên, nếu dùng thuốc đúng cách theo chỉ định sẽ ít gây ra các tác dụng phụ. Đối với những loại thuốc cần phải tiêm vào tĩnh mạch có thể gây ra những triệu chứng như đau cơ, đau đầu, sốt trong vòng 3 ngày khi tiêm.

Bên cạnh đó, còn có thể gây những tác dụng phụ rất nghiêm trọng tuy ít khi bắt gặp, ví dụ như tổn thương hay hoại tử xương hàm, gãy xương đùi ( gãy xương do chấn thương thấp). Những triệu chứng này chỉ có thể bắt gặp ở các bệnh nhân ung thư dùng thuốc tiêm tĩnh mạch với liều cao. Những nguy cơ bắt gặp các triệu chứng trên sẽ tăng lên nếu sử dụng thuốc kéo dài trên 5 năm. 

Tham khảo: serum, serum, serum, collagen, collagen, collagen,collagen, collagen